Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử huyện Ý Yên - Tỉnh Nam Định















Lượt xem: 169
Kỷ niệm 42 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017).
Nhân Kỷ niệm 42 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017). Ban biên tập trang thông tin điện tử huyện sưu tầm,  trân trọng giới thiệu tới quý vị và các bạn bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 30/6/1975.


  Mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã ghi thêm một chiến công cực kỳ vĩ đại: trong một trận quyết chiến chiến lược thần tốc 55 ngày đêm, tiêu diệt hoàn toàn quân đội nguỵ đông hơn một triệu tên được Mỹ tổ chức, trang bị và chỉ huy, xoá bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai bán nước, quét sạch cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, giành lại nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc. Bài viết gồm 4 phần: Phần I- Mấy nét diễn biến lớn; phần II- Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng; phần III-Chiến dịch Huế, Đà Nẵng đại thắng; Phần IV- Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Phần I: Mấy nét diễn biến lớn

Cách đây hơn 2 năm hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết tại Pari. Hiệp định Pari về Việt Nam thể hiện thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta và phản ánh thất bại hết sức nặng nề của đế quốc Mỹ. Mỹ đã buộc phải rút quân đội của chúng ra khỏi miền Nam nước ta, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản  của nhân dân Việt Nam, chấm dứt mọi dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Từ đó, cục diện quân sự và chính trị trên cả nước ta cũng như trên chiến trường miền nam đã có sự thay đổi cơ bản. Xu thế tất thắng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đã trở nên rõ rệt, không thể nào đảo ngược.

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ngoan cố theo đuổi âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lên toàn bộ miền Nam nước ta, Hiệp định Pari chưa ráo mực, nhân dân ta ở miền Nam chưa được hưởng một ngày hoà bình, thì Mỹ-ngụy đã trắng  trợn chà đạp hầu hết các điều khoản chủ yếu của hiệp định, tiếp tục tiến hành trên quy mô lớn cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của chúng, chồng chất vô vàn tội ác đối với đồng bào ta ở miền Nam. Chúng đã liên tiếp đề ra nhiều kế hoạch chiến tranh với mục tiêu: trong 3 năm từ năm 1973 đến năm 1975, chiếm hết tất cả các vùng giải phóng của ta và đặt toàn bộ miền Nam dưới quyền kiểm soát của chúng. Chúng ôm ấp ảo tưởng bước sang năm 1976 sẽ có thể ung dung xây dựng và củng cố chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt nằm trong quỹ đạo của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta.


Nhân dân Việt Nam ta đã giành  được thắng lợi vĩ đại, nhưng sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam chưa hoàn thành. Vì vậy, tiếp tục phấn đấu đưa cách mạng tiến lên, hoàn toàn giải phòng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, hoàn thành triệt để cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước là nhiệm vụ chính trị của toàn dân ta trong giai đoạn mới. Chúng ta chủ trương nêu cao ngọn cờ hòa bình , độc lập dân tộc, tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari, song quyết không dung thứ hành động tiếp tục chiến tranh của Mỹ-Thiệu. Để bảo vệ thành quả cách mạng, để thực hiện kỳ được những mục tiêu cao cả của cách mạng, quân và dân ta đã nắm vững quan điểm cách mạng bạo lực, kiên quyết dùng chiến tranh cách mạng đánh bại cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mỹ-ngụy. Trải qua 2 năm chiến tranh quyết liệt, năm 1973 và năm 1974, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường. Từ tháng 12 năm 1974, đồng bào và chiến sỹ ta ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ lại đã giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa: trong một thời gian ngắn, tiêu diệt hàng nghìn đồn bốt và giải phóng tỉnh Phước Long-tỉnh đầu tiên được hoàn toàn giải phóng ở miền Nam. Những thắng lợi to lớn của ta đã đẩy ngụy quân, ngụy quyền vào tình trạng suy yếu toàn diện không thể nào gượng lại và buộc chúng phải chuyển về thế phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Còn Đế quốc Mỹ thì sau khi rút quân khỏi miền nam nước ta, không những không hồi phục lại được, không những không mạnh lên như chúng hy vọng, mà ngược lại, ngày càng lún sâu vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt. Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đạt được những thành tích lớn đáng phấn khởi trong công cuộc hàn gắn lại vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa…đồng thời tiếp tục động viên sức người, sức của, kề vai sát cánh với đồng bào và chiến sĩ miền Nam hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước.

Trước khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta nổ ra địch còn có một lực lượng quân sự rất lớn trên chiến trường miền Nam. Chúng có một đội quân rất đông, được trang bị hiện đại gồm đủ các quân chủng, binh chủng, trong đó có lực lượng không quân và hải quân khá mạnh. Chúng đã ráo riết củng cố cả một hệ thống kìm kẹp vô cùng tàn bạo từ trung ương đến cơ sở gồm cả một lực lượng cảnh sát đông hàng chục vạn tên.

Lực lượng địch được bố trí theo yêu cầu của cái gọi là chiến lược “chiến tranh diện địa” nhằm “bảo vệ đến mức tối đa an ninh lãnh thổ” với một hệ thống kiểm soát quân sự gần 8 nghìn đồn bốt các loại, cắm sâu xuống tận xã, ấp. Chúng ra sức tăng cường lực lượng địa phương nhằm tiến tới làm cho tất cả quân chủ lực của chúng trở thành hoàn toàn cơ động, hòng đối phó có hiệu quả các cuộc tiến công của ta và mở các cuộc tiến công lớn đánh chiếm vùng giải phóng.

Một bộ phận quan trọng của lực lượng chủ lực địch gồm ba sư đoàn và thường có thêm từ một đến hai sư đoàn dự bị chiến lược đã được bố trí để bảo vệ quân khu 3 ngụy, tức miền Đông Nam Bộ. Đây là một địa bàn xung yếu và quan trọng vào bậc nhất ở miền Nam, vì ở đó có Sài Gòn là “thủ đô”, là trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa lớn nhất của miền Nam, là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Ngụy quân, ngụy quyền.

Một lực lượng khá mạnh gồm 3 sư đoàn, có lúc được tăng cường từ một đến hai sư đoàn dự bị chiến lược được bố trí ở quân khu một là địa bàn chiến lược tiếp giáp với miền Bắc, có căn cứ quân sự liên hợp lớn là Đà Nẵng và tập đoàn phòng ngự mạnh là Thừa Thiên – Huế.

Trên địa bàn quân khu 2 rộng lớn, bao gồm toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh ven biển từ Bình Định vào đến bình thuận, địch bố trí 2 sư đoàn chủ lực và gần một nửa tổng số liên đoàn quân biệt động tập trung ở khu vực Bắc Tây Nguyên và ở tỉnh Bình Định. Còn trên các tỉnh khác ở đồng bằng ven biển và một số tỉnh ở cao nguyên Trung Bộ như Tuyên Đức, Lâm Đồng, địch bố trí lực lượng địa phương phòng giữ, vì chúng cho rằng ở đây khó  có hoạt động lớn của bộ đội chủ lực Quân giải phóng.

Quân khu 4 ngụy gồm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đông dân nhiều của, nguồn nhân lực, vật lực chủ yếu của chiến lược “việt nam hóa chiến tranh”. Ở đây chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, nhưng địch cho rằng chủ lực của ta không mạnh lắm cho nên chúng đã bố trí ba sư đoàn trên cả vùng đồng bằng rộng lớn.

Trên mỗi quân khu, địch còn bố trí một lực lượng lớn các đơn vị không quân, hải quân, thiết giáp, pháo binh…cùng một lực lượng đông đảo quân địa phương.

Nhìn chung, có thể thấy, lực lượng địch tuy rất lớn nhưng bị dàn ra trên những địa bàn quá rộng, cho nên thế bố trí của chúng phân tán, bộc lộ nhiều chỗ yếu và sơ hở, đặc biệt là trên tuyến dài hàng mấy trăm km dọc ven biển miền Trung. Với thế bố trí đó, trong tình hình trước đây, quân địch còn có thể tạm thời đứng được. Song cục diện ngày nay đã khác. Lực lượng so sánh đã thay đổi căn bản có lợi cho ta. Các chiến trường của ta đã được tổ chức hoàn chỉnh thêm, hệ thống giao thông chiến lược được phát triển khả năng cơ động của các binh đoàn lớn của ta được tăng cường. Trong tình hình đó hệ thống bố trí của địch không thể nào đứng vững được trước sức mạnh tiến công của ta.

Trong bối cảnh lịch sử như đã trình bày ở trên, một cuộc đọ sức cuối cùng giữa ta và địch tất yếu sẽ phải diễn ra và sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quân, ngụy quyền miền Nam là không thể không tránh khỏi.

Để đạt mục đích tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, quân và dân ta đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Quân Giải phóng đánh chiếm căn cứ không quân Tân Sơn Nhất của chế độ Ngụy quyền


Qua diễn biến chiến sự trên chiến trường, chúng ta thấy rõ chủ trương chiến lược của quân và dân ta là cuối cùng phải đánh một đòn quyết định vào trung tâm đầu não của địch ở Sài Gòn. Và muốn thế, trước đó cần phải đánh những đòn thật mạnh, tiêu diệt và làm tam rã lực lượng quân sự của địch trên chiến trường Tây Nguyên và chiến trường phía Bắc.

Vào thượng tuần tháng 3 năm 1975, trên tất cả các chiến trường miền Nam từ Trị -Thiên đến khu 5, từ Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, quân và dân ta đã mở hàng loạt trận tiến công và nổi dậy quy mô vừa và nhỏ, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để bước vào các trận tiến công lớn.

Trong tình hình quân địch đã bị động càng thêm bị động, đã phân tán càng thêm phân tán, không phán đoán được ý đồ chiến lược của ta, quân và dân ta đã mở các chiến dịch tiến công lớn, giành thắng lợi dồn dập, bắt đầu là chiến dịch đại thắng Tây Nguyên, tiếp theo là chiến dịch đại thắng Huế-Đà Nẵng và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện.

Phần II: Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng

Cuộc tổng tiến công chiến lược mở đầu bằng chiến dịch đại thắng trên hướng Tây Nguyên. Tây Nguyên là một vùng cao nguyên rộng lớn có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng. Qua hàng chục năm chiến đấu cực kỳ anh dũng và gian khó, các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi liên tiếp, biến vùng cao nguyên này thành một chiến trường được chuẩn bị tốt, một địa bàn rất thuận lợi để các binh đoàn cơ động chiến lược của ta triển khai và tiến công quân địch trên một thế trận rất mạnh.

 Chiến dịch Tây Nguyên đã bắt đầu bằng trận điểm đúng huyệt Buôn Mê Thuột ngày 10-3-1975, sau khi quân ta tiêu diệt Thuần Mẫn và Đức Lập, hai cứ điểm quan trọng trên đường số 14. Ngay từ ngày 4-3-1975 quân và dân Tây Nguyên đã cắt đứt các đường số 19 và số 14, cô lập Plâycu, Công Tum, đồng thời bao vây, uy hiếp các căn cứ quan trọng này. Ta đã khéo nghi binh làm cho địch phán đoán sai hướng tiến công của ta, kéo sự chú ý của chúng về hướng Plâycu, buộc chúng phải bị động điều quân đối phó theo ý định của ta, bộc lộ sơ hở ở Buôn Mê Thuột. Địch đã điều động phần lớn lực lượng sư đoàn bộ binh số 22 từ Bình Định lên và các liên đoàn quân biệt động, bảo an, lực lượng thiết giáp từ Plâycu xuống, cố giải tỏa đường số 19, con đường huyết mạch nối liền Tây Nguyên với đồng bằng.  Chúng còn điều động thêm một trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 23 từ Buôn Mê Thuột lên tăng viện cho Plâycu. Buôn Mê Thuột, mục tiêu rất hiểm yếu của chiến dịch Tây Nguyên, lúc này trở lên tương đối yếu và sơ hở.

Nắm vững thời cơ, quân ta đã dùng lối đánh táo bạo, bất ngờ, nhanh chóng cơ động lực lượng vượt qua các tuyến phòng thủ vòng ngoài của Buôn Mê Thuột, tiến công thẳng vào các mục tiêu chủ yếu trong thị xã, chiếm lĩnh 2 sân bay, tiêu diệt khu căn cứ thiết giáp, pháo binh tiểu khu Đắc Lắc, sư đoàn bộ sư đoàn số 23. Sau không đầy 2 ngày chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột.

Bị đòn choáng váng, địch vội vã điều động viện binh từ Plâycu cắm xuống phía đông Buôn Mê Thuột, khu vực Phước An hai trung đoàn  của sư đoàn số 23, các liên đoàn quân biệt động, có máy bay và đại bác yểm trợ, thực hiện phản kích hòng chiếm lại Buôn Mê Thuột.

Kiên quyết bẻ gãy cuộc phản kích của địch, ta đã nhanh chóng tập trung lực lượng đánh chiếm căn cứ của trung đoàn bộ binh số 45, chi khu quân sự và quận lỵ Buôn Hồ, Hòa Bình và đã cơ động lực lượng dự bị mạnh, liên tiếp tấn công địch từ ngày 14 đến ngày 18-3-1975, tiến công tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn số 23 và các lực lượng dự bị mạnh còn lại quanh thị xã, giải phóng quận lỵ Phước An, đập tan hoàn toàn kế hoạch của địch định chiếm lại Buôn Mê Thuật.

Những thắng lợi vang dội đầu tiên này đã gây bất ngờ lớn cho địch, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng ở Tây Nguyên. Trong khi đó, trên mặt trận Bình Định, hướng phối hợp rất quan trọng của chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta đã ghìm chặt và đánh thiệt hại nặng một số trung đoàn thuộc sư đoàn số 22 ngụy trên đường số 19 ở đèo Mang Giang, thực hiện chia cắt triệt để khóa chặt đoạn đường này. Công Tum và Plâycu càng bị uy hiếp nghiêm trọng. Thế trận của quân địch ở Tây Nguyên chỉ trong mấy ngày đã trở nên hết sức tồi tệ. Trong thời gian này, quân và dân ta tiến công địch mạnh mẽ trên khắp các chiến trường. Quân địch thiếu lực lượng cơ động, đối phó rất lúng túng. Trước tình hình đó, để tránh nguy cơ bị tiêu diệt lớn, Mỹ-ngụy đã buộc phải đi đến một quyết định chiến lược: rút bỏ các tỉnh Công Tum, Gia Lai để bảo toàn lực lượng, lui về giữ toàn bộ vùng đồng bằng ven biển miền Trung và tạo điều kiện tập trung lực lượng cơ động để phản kích chiếm lại Buôn Mê Thuột, địa bàn mà chúng cho là rất quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế. Trước sức mạnh tiến công như vũ bão của quân ta, cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên đã biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn và thất bại thảm hại.

Sau thắng lợi Buôn Mê Thuột, ta nhận định: địch bị thất bại rất nặng, đặc điểm nổi bật là tinh thần của chúng đã bị suy sụp; ta đang đứng trước thời cơ thuận lợi để phát triển tiến công, giành toàn thắng cho chiến dịch. Từ ngày 13-3, ta đã dự kiến quân địch có thể buộc phải rút khỏi Tây Nguyên. Ngày 16-3, khi quân địch ở Plâycu, Công Tum bắt đầu triển khai cuộc rút lui theo đường số 7 thì một binh đoàn của ta từ trước đã được giao nhiệm vụ chiến đấu hướng này đã nhanh chóng vận động bằng cơ giới theo đường số 14 và đường số 7B, kịp thời chặn đứng quân địch ở đông và tây Cheo Reo. Một đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh Phú Yên được lệnh tiến lên cắt cầu Sơn Hòa, chặn đường rút của địch. Như vậy là số phận của quân địch ở Tây Nguyên rút chạy đã được định đoạt. Từ 18-3 đến 20-3, quân ta bao vây, chia cắt, tiến công tiêu diệt quân địch, đồng thời giải phóng thị xã Cheo Reo. Tiếp đó, ta đã nhanh chóng truy kích và tiêu diệt tàn quân đang chạy về quận lỵ Củng Sơn. Đến ngày 24-3, toàn bộ quân địch rút chạy từ Công Tum, Plâycu  gồm 6 liên đoàn quân biệt động, ba trung đoàn thiết giáp cùng các đơn vị binh chủng, quân chủng kỹ thuật khác đã bị tiêu diệt.


Trận quyết chiến Tây Nguyên đã toàn thắng. Cả vùng Tây Nguyên chiến lược rộng lớn được giải phóng. Hơn 12 vạn quân địch bị tiêu diệt. Hơn 60 vạn nhân dân các dân tộc giành lại hoàn toàn quyền làm chủ. Ta thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch.

Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng có ý nghĩa hết sức to lớn. Sau thắng lợi này quân ta đã ở thế uy hiếp trực tiếp phòng tuyến phòng ngự ven biển miền Trung của địch. Hệ thống bố trí chiến lược của chúng trên toàn chiến trường miền Nam đứng trước nguy cơ bị cắt làm hai. Quân khu 3 bị uy hiếp và quân khu 1 bị cô lập. Toàn bộ hệ thống quân sự và kìm kẹp của địch ở miền Nam bị rung chuyển dữ dội. Thắng lợi này đã giáng một đòn  quyết định vào lực lượng chủ yếu của địch ở quân khu 2 tạo điều kiện hết sức thuận lợi để giải phóng các tỉnh còn lại của quân khu này.

Sau khi quân địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt, các binh đoàn chủ lực của ta đã thừa thắng phát triển tiến công về hướng đồng bằng ven biển miền Trung theo các trục đường số 19, số 7 và số 21. Một binh đoàn mạnh của ta đang hoạt động trên đường số 19 về Bình Định đã nhanh chóng tiêu diệt căn cứ An Khê ngày 23-3. Sau đó binh đoàn này đã kết hợp với một binh đoàn khác từ Tây Nguyên xuống đánh một trận lớn từ Phú Phong đến sân bay Gò Quánh thuộc tỉnh Bình Định, tiêu diệt phần lớn sư đoàn ngụy số 22. Lực lượng còn lại của sư đoàn này đã bị các lực lượng vũ trang địa phương Bình Định kết hợp với quần chúng nổi dậy mạnh mẽ tiêu diệt và làm ta rã hoàn toàn. Một binh đoàn khác từ Tây Nguyên tiến xuống theo đường số 21, đã tiêu diệt lữ đoàn lính dù số 3 án ngữ đèo Phượng Hoàng, giải phóng quận lỵ Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian này, phối hợp với Tây Nguyên, quân và dân ta đã tích cực đánh địch trên khắp các mặt trận, đặc biệt cao trào tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, toàn bộ lực lượng còn lại của quân đoàn 2 ngụy đã tan rã nhanh chóng. Các tỉnh, thành phố còn lại thuộc quân khu 2 được giải phóng với một nhịp độ dồn dập:

Ngày 1-4 tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn.

Cùng ngày, tỉnh Phú Yên với thị xã Tuy Hòa.

Ngày 2-4, tỉnh Lâm Đồng và thị xã Bảo Lộc.

Từ ngày 2 đến ngày 3-4, tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh.

Ngày 4-4, tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt.

Trước đó, ngày 24-3, tỉnh Quảng Đức với thị xã Gia Nghĩa đã được giải phóng.

Địch vội vàng sáp nhập hai tỉnh cực nam của quân khu 2 là Ninh Thuận và Bình Thuận vào quân khu 3 với ý đồ tăng cường phòng thủ cho Sài Gòn từ xa. Toàn bộ quân khu 2 ngụy đã bị xóa sổ.

 

Phần III: Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đại thắng

Thắng lợi Tây Nguyên đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ-ngụy, một bước ngoặt trong quá trình phát triển của cục diện quân sự và chính trị ở miền Nam. Với chiến thắng Tây Nguyên, cuộc chiến tranh cách mạng đã bước sang một giai đoạn mới, từ tiến công có ý nghĩa chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.

Từ đầu tháng 3 năm 1975, để phối hợp với hướng Tây Nguyên, quân ta đã đẩy mạnh hoạt động trên mặt trận Trị Thiên cũng như trên mặt trận đồng bằng khu 5. Bước vào trung tuần tháng 3, quân và dân ta đã gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng hành động táo tạo và bất ngờ giành thắng lợi lớn nhất cho trận quyết chiến sắp tới trên chiến trường Trị-Thiên-Huế và chiến trường bắc khu 5.

Chiến trường Trị-Thiên-Huế và chiến trường đồng bằng khu 5 bao gồm cả Đà Nẵng là những nơi đã diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa và nhiều cuộc tiến công quy mô lớn. Từ sau năm 1972, lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương của ta càng phát triển mạnh. Các binh đoàn chủ lực lớn của ta đã có đầy đủ điều kiện để đứng chân vững chắc và triển khai tiến công Huế-Đà Nẵng trên một thế trận rất lợi hại.

Huế và Đà Nẵng là những khu vực phòng ngự mạnh nhất của quân khu 1 ngụy. Để tiêu diệt toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở quân khu 1, ở phía Bắc ta đã thực hiện chia cắt chiến lược tiến công tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 1, giải phóng tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, ở phía Nam ta đã tiến công tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 2, giải phóng các tỉnh  Quảng Tín, Quảng Ngãi. Ta đã cô lập hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và cuối cùng đã nhanh chóng bao vây, công kích từ nhiều mặt, kết hợp tiến công với nổi dậy đánh chiếm căn cứ quân sự liên hợp này. Các trận đánh lớn diễn ra táo bạo, thần tốc, linh hoạt theo kế hoạch đã dự kiến, hình thành một chiến dịch quy mô lớn, chỉ mấy ngày sau khi chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi, đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch ở quân khu 1.

Tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế có hơn bốn vạn quân gồm những đơn vị được xếp vào loại thiện chiến nhất của quân ngụy như sư đoàn bộ binh số 1, các lữ đoàn lính thủy đánh bộ...dựa vào các tuyến phòng thủ kiên cố được xây dựng từ nhiều năm ở phía bắc và phía tây thành phố Huế.

Vào thượng tuần tháng 3, quân ta đã tiến công mạnh nhiều vị trí địch trên tuyến phòng thủ Trị-Thiên và thực hiện nghi binh rộng rãi. Trong khi đó, hàng trăm đội công tác vũ trang vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, thọc sâu xuống đồng bằng, phát động quần chúng nổi dậy, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở vùng sau lưng địch. Trước sức tiến công của ta, ngày 19-3, quân địch buộc phải rút khỏi thị xã Quảng Trị lui về củng cố tuyến phòng ngự ở nam sông Mỹ Chánh.

Ta đã nắm chắc quy luật hành động của địch, đánh giá đúng những khó khăn, chỗ yếu và mâu thuẫn của chúng trong tình thế chiến lược mới. Ngày 17-3, quân ta đã được lệnh thực hiện chia cắt chiến lược giữa Huế và Đà Nẵng. Ngày 19-3 trong khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc thì ta đã hạ quyết tâm mở trận tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế.

Ngày 22-3, Quân giải phóng bắt đầu tiến công Huế từ nhiều hướng.

Cánh quân chủ yếu ở hướng nam đang tiến công địch ở núi Bông đã kịp thời thay đổi hướng đánh, không đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch mà nhanh chóng thọc sâu cắt đường số 1 đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc triệt hẳn con đường rút lui của địch về Đà Nẵng. Một đơn vị khác phối hợp với lực lượng địa phương nhanh chóng chặn đường rút ra biển của địch ở cửa Tư Hiền.

Từ hướng bắc một đơn vị quân ta đã vượt qua tuyến Mỹ Chánh qua quận Phong Điền, Hướng Điền tiến thẳng về phía cửa Thuận An.

Pháo binh ta chế áp sân bay Phú Bài, sở chỉ huy sư đoàn ngụy số 1 bắn chặn địch ở ngã ba Sình và cửa Thuận An.

Thế trận của địch đột nhiên bị phá vỡ. Quân địch hoang mang, hoảng loạn vội vã rút khỏi các khu vực phòng ngự của chúng, hỗn loạn tháo chạy về cửa Thuận An và cửa Tư Hiền hòng theo đường biển rút về Đà Nẵng. Những cánh quân khác của ta được lệnh gấp rút từ hướng nam vượt qua đường số 1, từ hướng tây vượt qua sông Tả Trạch tiến về phía bờ biển, nhanh chóng bao vây, tiến công và tiêu diệt địch.

Ngày 24-3 quân ta đã bao vây chặt toàn bộ tập đoàn phòng ngự của địch ở Huế. Ngày 25-3 các cánh quân ta tiến công vào khu cảng Tân Mỹ - Thuận An, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân địch đã dồn về đây. Cùng ngày, các mũi tiến công khác của quân chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến vào thành phố kết hợp với quần chúng nổi dậy giải phóng cố đô Huế, kết thúc vẻ vang trận đánh Thừa Thiên – Huế vào trưa ngày 26-3-1975.

Sau bốn ngày chiến đấu quân và dân ta đã hoàn toàn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế. Thắng lợi vang dội này là một đòn phủ đầu trí mạng giáng vào kế hoạch phòng ngự co cụm chiến lược mới của địch ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Nó khẳng định quân và dân ta không những có khả năng quét sạch những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường rừng núi mà cũng hoàn toàn có khả năng tiêu diệt những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở đồng bằng ven biển và trong các thành phố. Thắng lợi Thừa Thiên – Huế càng đẩy quân ngụy lao nhanh hơn nữa xuống thảm trạng suy sụp lớn về tinh thần và tổ chức.

Trong khi trận đánh Huế chưa kết thúc thì ở phía nam Đà Nẵng diễn ra trận Tam Kỳ - Quảng Ngãi. Các lực lượng vũ trang ta đã hành động quả cảm và mau lẹ. Sau khi giải phóng các quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, ta đã kiên quyết tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 24-3, liền đó gấp rút phát triển tiến công về phía Đà Nẵng, trong khi lực lượng địa phương nhanh chóng đánh chiếm Chu Lai ngày 25-3. Đồng thời, đồng bào và các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi nắm vững thời cơ đã dấy lên một cao trào nổi dậy và tiến công giải phóng toàn tỉnh ngày 25-3. Một lực lượng lớn quân ngụy, trong đó có phần lớn sư đoàn bộ binh số 2 đã bị tiêu diệt. Chiến thắng Tam Kỳ - Quảng Ngãi đã đẩy căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng vào thế hoàn toàn cô lập với các lực lượng còn lại của quân ngụy ở phía Nam.

Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố quyết “tử thủ” Đà Nẵng bằng mọi giá. Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục, không quân hiện đại và mạnh vào bậc nhất ở miền Nam. Địch đã tập trung về Đà Nẵng hơn 10 vạn quân bao gồm nhiều đơn vị như sư đoàn bộ binh cấp 3, các lữ đoàn lính thủy đánh bộ, các liên đoàn quân biệt động, các đơn vị của sư đoàn bộ binh số 2, các trung đoàn thiết giáp, các tiểu đoàn pháo binh… Địch còn có một sư đoàn không quân bố trí ở sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn cùng nhiều tàu chiến đậu ở cảng và bờ biển. Sau khi tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên- Huế bị tiêu diệt, đế quốc Mỹ đã vội vã điều động một số tàu chiến đến vùng ven biển Đà Nẵng rập rình làm “lực lượng ngăn đe”. Mỹ-ngụy tính toán, nếu ta muốn tiến công tập đoàn phòng ngự này của chúng thì sau khi giải phóng Huế ta phải mất ít nhất một tháng chuẩn bị.

Về phía ta, từ trung tuần tháng 3 quân và dân ta đã gấp rút đẩy mạnh các công tác chuẩn bị cuối cùng cho trận tiến công và nổi dậy tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng.

Ngày 24-3, trong khi trận đánh Huế đang bước vào giai đoạn khẩn trương, ta đã đánh giá đúng xu thế phát triển của tình hình và nhận định rằng, sau khi mất Huế và Tam Kỳ, dù địch muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể giữ được. Quân ta đã nêu quyết tâm tiến công tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng. Sáng ngày 28-3 bọn chỉ huy quân đoàn 1 ngụy còn họp bàn kế hoạch tăng cường phòng thủ Đà Nẵng. Nhưng ta đã dự kiến, trước sức mạnh tiến công sắp tới của quân ta địch nhất định buộc phải rút khỏi Đà Nẵng. Chúng có thể rút nhanh, cũng có thể trì hoãn một thời gian để rút có kế hoạch. Quân ta đã quyết định đánh địch theo tình huống chúng rút nhanh, đồng thời cũng chuẩn bị mọi mặt để tiêu diệt địch trong trường hợp chúng tiếp tục cố thủ.

Quân và dân ta đã hành động theo phương châm kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất, đồng thời phải chắc thắng nhất. Ta đã gấp rút điều động lực lượng lớn từ các hướng tiến đến, đồng thời phát huy các lực lượng đã bố trí sẵn tại chỗ kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Một binh đoàn tác chiến ở Huế được lệnh tiến quân về phía Đà Nẵng ngay khi Huế chưa kết thúc. Binh đoàn vừa giải phóng Tam Kỳ được lệnh tiến quân ra phía Bắc. Một binh đoàn bố trí từ trước ở Thượng Đức cũng được lệnh tiến đánh Đà Nẵng. Ngày 27-3, các binh đoàn của ta đều nhằm hướng Đà Nẵng tiến công thần tốc không kể ngày đêm. Các lực lượng địa phương cũng gấp rút và táo bạo tiến về thành phố. Trong khi đó các lực lượng chính trị của quần chúng trong thành phố Đà Nẵng gấp rút chuẩn bị để sẵn sàng nổi dậy.

Sáng ngày 28-3, cuộc tiến công Đà Nẵng bắt đầu với trận đột kích mãnh liệt của pháo binh ta vào sân bay và quân cảng Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà, triệt hẳn mọi con đường rút chạy của địch, đường không cũng như đường biển.

Bộ binh và xe tăng ta tiến công mạnh mẽ trên các hướng.

Bộ binh và cơ giới từ phía bắc tiến theo đường số 1, chiếm đèo Hải Vân, Liên Chiểu, nhanh chóng đánh tan các đơn vị lính thủy đánh bộ, tiến thẳng vào  thành phố, thọc sâu vào bán đảo Sơn Trà.

Binh đoàn phía Nam vượt qua Bà Rén, Vĩnh Điện, đánh tan sư đoàn ngụy số 3, nhanh chóng tiến về phía Nam thành phố, vào sân bay Nước Mặn, kết hợp với bộ đội địa phương đã tiến vào đây từ trước, với quần chúng nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở khu vực này, rồi đánh thẳng ra bán đảo Sơn Trà.

Binh đoàn phía Tây-Nam nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Ái Nghĩa, thọc thẳng vào sân bay Đà Nẵng.

Phối hợp với cuộc tiến công của Quân giải phóng, đông đảo quần chúng và các lực lượng tự vệ, biệt động trong và ngoài thành phố Đà Nẵng đã nổi dậy mạnh mẽ, giành quyền làm chủ ở nhiều khu vực, chống địch cướp phá, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, vận động quân ngụy hạ vũ khí, giúp đỡ bộ đội nhanh chóng cơ động vào thành phố, kêu gọi sĩ quan và binh lính địch ra hàng.

15h ngày 29-3, các binh đoàn của ta từ các hướng tiến công thần tốc vào Đà Nẵng, đã gặp nhau ở trung tâm thành phố.

Trận tiến công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng đã kết thúc thắng lợi. Hơn 10 vạn quân địch trong đó có cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn 1 của ngụy đã bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn. Căn cứ quân sự liên hợp mạnh nhất của địch ở miền Trung đã hoàn toàn bị đập tan trong một cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc 32 giờ. Ta thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh. Tiếp theo thắng lợi Thừa Thiên-Huế và thắng lợi Tam Kỳ-Quảng Ngãi, trận đại thắng Đà Nẵng đã quét sạch hệ thống phòng thủ chiến lược mới của địch ở miền Trung, xóa bỏ quân khu 1 ngụy. Sau trận  Đà Nẵng, toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại địch ở quân khu 2 bị sụp đổ dồn dập. Kế hoạch co cụm chiến lược hòng giữ vững vùng đồng bằng ven biển của địch vừa mới triển khai đã bị đập tan. Thắng lợi Đà Nẵng đã đẩy quân địch vào tình trạng tuyệt vọng. Chúng bị suy sụp lớn về tinh thần, tan rã lớn về tổ chức, tổn thất lớn về vật chất, kỹ thuật, bế tắc hoàn toàn về chiến lược, chiến thuật. Thắng lợi Đà Nẵng làm cho bè lũ Nguyễn Văn Thiệu hết sức kinh hoàng, Lầu năm góc và Nhà trắng sửng sốt. Chính các nhà chiến lược Mỹ phải thừa nhận “Cuộc tiến công của Cộng sản là đòn hiểm không có cách gì chống đỡ, không có pháp gì hồi phục được cả về quân sự, chính trị và kinh tế”.

Trong thời gian này phối hợp với trận Tây Nguyên và trận Huế-Đà Nẵng, quân và dân Bình Long tiến công và nổi dậy chiếm thị xã An Lộc, đánh chiếm chỉ khu quân sự, quận lỵ Chơn Thành, giải phóng toàn bộ tỉnh Bình Long. Quân và dân các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Long An, Long Khánh, Bình Tuy tiến công và nổi dậy tiêu diệt chi khu quân sự, quận lỵ Dầu Tiếng, Định Quán, Hoài Đức và một loạt các căn cứ, yếu khu quân sự, giải phóng một vùng rộng lớn liên hoàn ở phía bắc và tây bắc Sài Gòn. Quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phát triển tiến công và nổi dậy, tiêu diệt nhiều địch và tiêu diệt bức rút hàng nghìn đồn bốt, giành quyền làm chủ ở nhiều địa phương, mở rộng vùng giải phóng.

            Phần IV: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Trải qua một tháng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã giành toàn thắng trong trận Tây Nguyên, lại giành toàn thắng trong trận Huế-Đà Nẵng. Đó là những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ to lớn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự, phá hủy và thu toàn bộ binh khí kỹ thuật, căn cứ, kho tàng và các phương tiện chiến tranh, đập tan toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy trên 2 trong 4 quân khu của địch ở miền Nam. Ta đã hoàn toàn giải phóng một dải đất đai rộng lớn, bao gồm 16 tỉnh và 6 thành phố lớn: Buôn Mê Thuột, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, cùng nhiều quận lỵ, chi khu và yếu khu quân sự thuộc miền đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Vùng giải phóng được mở rộng chiếm ¾ diện tích và gần nửa số dân của miền Nam.

Quân ủy Trung ương theo dõi diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975

          
  Sau những thắng lợi to lớn nói trên, so sánh về lực và thế giữa ta và địch đã có sự chuyển biến vượt bậc hết sức có lợi cho ta. Lực lượng của địch bị giảm gần một nửa còn lực lượng của ta thì tăng thêm mạnh mẽ. Các lực lượng ta trước đây tác chiến ở những vùng vừa được giải phóng đã trở thành những binh đoàn hoàn toàn cơ động được trang bị đầy đủ và có sự dự trữ dồi dào, sẵn sàng bước vào những trận chiến đấu mới. Các biện pháp phòng thủ của địch đã hoàn toàn phá sản, còn quân ta thì đã thu được nhiều kinh nghiệm mới trong việc tiến hành những cuộc tiến công quy mô lớn. Địch phải lùi về phòng thủ trên đất đai còn lại trong một thế chiến lược bị đảo lộn, có rất nhiều chỗ yếu và sơ hở không thể khắc phục. Trái lại, ta đã có những căn cứ mới, những bàn đạp mới, những tuyến đường chiến lược mới để tiếp tục phát triển, bao vây, tiến công chúng. Tinh thần quân địch bị suy sụp vì thất bại dồn dập, còn quân ta thì trên đà chiến thắng đang xông lên với thế chẻ tre.

Ta đã kịp thời đánh giá đúng tình hình: cục diện chiến tranh đã có bước phát triển nhảy vọt. Lực lượng quân sự, lực lượng chính trị và thế chiến lược của ta đã hoàn toàn áp đảo quân địch. Quân ngụy đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Mỹ hoàn toàn bất lực, dù có can thiệp như thế nào cũng không thể cứu nổi quân ngụy. Thời cơ đã chín muồi để quân và dân ta thực hành tổng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, thực hành trận quyết chiến lịch sử đánh thắng vào hang ổ cuối cùng của địch ở Sài Gòn, tiêu diệt toàn bộ ngụy quân, đánh đổ toàn bộ ngụy quyền, giành thắng lợi hoàn toàn.

Vào cuối trung tuần tháng 3, trong khi chiến dịch Tây Nguyên đang trên đà mở rộng thắng lợi thì ta đã sớm xác định hướng phát triển chủ yếu tiếp sau là Sài Gòn-Gia Định. Vào giữa hạ tuần tháng 3 trong khi trận Huế sắp kết thúc thắng lợi, ta đã chính thức nêu quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định. Chiến dịch này được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, bao gồm cả Sài Gòn-Gia Định, trải qua hàng chục năm đấu tranh quyết liệt với địch quân và dân ta từ lâu, đã xây dựng được một thế trận rất độc đáo của chiến tranh cách mạng. Các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh của ta không những đã đứng vững trên các địa bàn chiến lược chung quanh Sài Gòn, mà còn bám trụ ngay cả ở vùng ven và trong nội thành, thường xuyên tiến công, uy hiếp “ thủ đô” của địch. Các lực lượng vũ trang đó bao gồm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị bộ đội địa phương, các tổ chức dân quân tự vệ và một lực lượng rất lớn bộ đội đặc biệt tinh nhuệ. Còn các lực lượng chính trị của quần chúng ngày càng phát triển ngay trong nội đô thì đã liên tục đấu tranh chống lại ngụy quyền trung ương với nhiều hình thức, phong phú. Trong lịch sử chiến tranh thật là hiếm có trường hợp một “thủ đô” mà suốt cả thời gian chiến tranh, luôn luôn nằm trong vòng vây của lực lượng vũ trang đối phương và nhiều lần bị trấn động bởi các cuộc tiến công và nổi dậy, các cuộc đấu tranh của quần chúng như trường hợp bọn ngụy ở Sài Gòn. Thế trận độc đáo đó là điều kiện rất thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực lớn của  ta thần tốc triển khai, thực hành chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Phương châm hành động của toàn quân, toàn dân là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, giành thắng lợi hoàn toàn.

Công tác chuẩn bị trên mọi mặt được đẩy mạnh với quy mô to lớn và với nhịp độ đặc biệt khẩn trương. Nhiều binh đoàn chủ lực lớn đang chiến đấu tại chỗ hình thành những cánh quân tiến công hùng mạnh, bao vây Sài Gòn từ mọi phía. Có những binh đoàn vừa mới rút khỏi chiến đấu đã chuyển sang cơ động một cách có tổ chức bằng nhiều phương tiện cơ giới trên những chặng đường rất dài với tốc độ cao, vừa đi vừa đánh, vừa giành thắng lợi giòn giã trong quá trình tiến quân, vừa kịp thời triển khai lực lượng cùng  các binh đoàn khác tiến công Sài Gòn theo đúng kế hoạch chung. Có những binh đoàn đã hành quân cơ giới với quy mô lớn, vượt hàng nghìn cây số với tốc độ nhanh, giữ vững số quân và chất lượng trang thiết bị kỹ thuật, kịp thời đánh địch theo đúng kế hoạch chiến dịch.

Tổ chức hậu cần các cấp và các lực lượng bảo đảm khác đã có những cố gắng vượt bậc để bảo đảm đầy đủ nhu cầu vật chất và kỹ thuật với một khối lượng đặc biệt to lớn đảm bảo cơ động, chỉ huy... cho các cánh quân trên phạm vi rộng lớn, trong điều kiện khẩn trương.

Tất cả đều phấn chấn hào hùng, anh dũng tiến lên, xông ra tiền tuyến vì sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, quyết giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại.

Về phía địch: sau khi bị quét sạch khỏi quân khu 1 và quân khu 2, chúng buộc phải thu thập tàn quân, chấn chỉnh bố trí, cố giữ vững các địa bàn còn lại, gấp rút khôi phục một số sư đoàn đã bị tiêu diệt, điều chỉnh, bố trí, cố giữ vững các địa bàn còn lại ở cực Nam Trung Bộ thuộc quân khu 3 và quân khu 4 của chúng. Mỹ-Ngụy mong dựa vào hệ thống phòng thủ này để trì hoãn cuộc tiến công của ta cho đến mùa mưa, tích cực tạo điều kiện chuyển sang phản công chiếm lại một số khu vực Sài Gòn-Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở đó  kết hợp với thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt, chúng mong tạo ra một thế lợi nào đó trong bước đường cùng, cứu vãn tình thế của chúng, hạn chế thắng lợi triệt để của quân và dân ta. Để giúp chính quyền Sài Gòn kéo dài cơn hấp hối, chính quyền Pho đã lập cầu hàng không khẩn cấp, gấp rút tăng cường vũ khí, thiết bị cho quân ngụy.

Quân ngụy vội vã lập ra tuyến phòng thủ từ xa ở Phan Rang do một lực lượng quan trọng bộ  binh, lính dù, quân biệt động và một sư đoàn không quân chiếm giữ, đặt dưới quyền chủ huy trực tiếp của bộ tư lệnh  tiền phương quân đoàn 3.

Ở Sài Gòn, địch bố trí nhiều  lực lượng khống chế các đường lớn dẫn vào thành phố từ mọi hướng.

Ở hướng đông, địch bố trí sư đoàn bộ binh số 18, sau này còn tăng cường thêm, lúc cao nhất lên đến chín trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, lính thủy đánh bộ, bốn trung đoàn thiết giáp, khống chế các con đường số 1 và số 15 ở các khu vực Xuân Lộc, Biên Hòa, Long Bình và Long Thành, Bà Rịa.

Hướng bắc có sư đoàn bộ binh số 5 và một trung đoàn thiết giáp bố trí dọc theo đường số 13 ở khu vực Lai Khê, Bến Cát, Thủ Dầu Một...

Hướng tây bắc do sư đoàn bộ binh số 25, một liên đoàn quân biệt động, 1 trung đoàn thiết giáp phòng ngự dọc theo tuyến đường 22 và đường số 1 ở các khu vực Tây Ninh, Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Củ Chi, Hóc Môn.

Hướng Tây Nam do sư đoàn bộ binh số 22 mới được khôi phục phòng thủ dọc theo đường số 4 ở khu vực Bến Lức.

Trên các đường về Sài Gòn, địch đều có bố trí vật chướng ngại để ngăn chặn bộ binh và xe tăng ta.

Trung tâm Sài Gòn, Gia Định do một số đơn vị lính nhảy dù, quân biệt động, thiết giáp, các lực lượng bảo vệ căn cứ, các lực lượng thuộc biệt khu thủ đô phòng giữ.

Ba sư đoàn không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chi viện cho các hoạt động tác chiến ở khu vực Sài Gòn-Gia Định.

Ở phía quân khu 4, lúc này địch còn 3 sư đoàn bộ binh, một sư đoàn không quân, năm trung đoàn thiết giáp... Sư đoàn bộ binh số 7 và số 9 được tập trung về tăng cường phòng thủ đường số 4 trên đoạn Tân An-Mỹ Tho. Nhìn chung tập đoàn phòng ngự của địch ở Sài Gòn cũng như ở quân khu 4 số lượng tuy còn không đông nhưng sức chiến đấu đã rất sút kém. Chúng không thể nào đương đầu nổi với các lực lượng tiến công của ta ở thế mạnh áp đảo. Tướng Uâyen, cựu tổng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam được nhà trắng và lầu 5 góc phái đến Sài Gòn để đốc thúc bọn tay sai cũng phải thú nhận tình hình quân sự của quân ngụy là tuyệt vọng.

Để liên tục phát triển tiến công và tạo thế lợi cho cuộc tổng tiến công kích vào Sài Gòn, từ ngày 9-4 quân ta đã hoạt động mạnh trên hướng đông đánh vào Xuân Lộc gây thiệt hại nặng nề cho sư đoàn bộ binh số 18, lữ đoàn lính dù số 1 và lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 3. Một cánh quân từ miền Trung tiến vào tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, trên đường tiến quân đã tiêu diệt toàn bộ quân địch phòng thủ ở Phan Rang, trong đó có  bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 giải phóng      Phan Rang, ngày 16-4, tiếp đó cùng các lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị của quần chúng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh Bình Thuận với thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tuy với thị xã Hàm Tân. Ngày 21-4 quân địch ở Xuân Lộc buộc phải rút chạy. Trên hướng tây nam quân và dân ta mở hành lang thông suốt từ biên giới xuống đường số 4 và mở bàn đạp tiến công ở phía Nam Sài Gòn.

Từ 17h ngày 26-4, quân ta mở cuộc tiến công lớn trên hướng đông và hướng tây nam Sài Gòn.

Trên hướng đông quân ta đánh chiếm chi khu quân sự Long Thành, trường sĩ quan thiết giáp của địch ở căn cứ Nước Trong... phát triển về hai hướng Biên Hòa và Nhơn Trạch. Các đơn vị bộ đội đặc biệt tinh nhuệ thọc sâu chiếm cầu xa lộ trên sông Đồng Nai và cầu xa lộ trên sông Sài Gòn. Trong khi đó một binh đoàn đánh chiếm Bà Rịa ở phía Nam. Trên hướng tây nam, quân ta cắt đứt hoàn toàn đường số 4, mở rộng bàn đạp tiến công ở mặt tây và nam Sài Gòn. Trên hướng bắc và hướng tây bắc quân ta dùng hỏa lực pháo binh làm tê liệt các trận địa pháo của địch, tiếp tục cắt đứt đường số 22.

Thế là từ ngày 26-4 đến ngày 28-4 ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng của địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài và siết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn.

Chiều ngày 28-4-1975 không quân ta ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều máy bay địch. Trước đó sân bay này cũng đã bị tên lửa của ta đánh phá.

Trong những ngày này, tình hình chính trị của địch ở Sài Gòn đã lâm vào một cuộc khủng hoảng cực kỳ trầm trọng. Sự đột biến về chính trị có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào. Quần chúng nhân dân sẵn sàng đứng lên giành quyền làm chủ. Trước những thất bại dồn dập và tình trạng nguy ngập không  thể cứu vãn được của quân ngụy, trước đà tiến công mạnh mẽ của của quân giải phóng ngày càng tiến sát Sài Gòn, để tránh thất bại nhục nhã hơn, đế quốc Mỹ đã xoay xở cuống cuồng, cuối cùng cũng đành bỏ cuộc. Ngày 18-4, Pho ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Một lực lượng khá lớn hải quân và không quân Hoa Kỳ được vội vã triển khai để di tản hàng vạn người gồm nhân viên quân sự, dân sự Mỹ, bọn tay sai đầu sỏ cùng những người bị bắt ép đi theo chúng, trong đó có nhiều trẻ em. Cuộc “di tản” kéo dài nhiều ngày và kết thúc vào đêm 29-4 bằng cuộc tháo chạy hốt hoảng của đại sứ Mỹ. Ngày 21-4 Mỹ gạt Thiệu, đưa Hương lên. Chính quyền Thiệu không có Thiệu này sống ngắc ngoải không đầy một tuần thì Minh lên thay. Trước bước đường cùng, Mỹ vẫn mưu toan vớt vát một phần nào quyền lợi thực dân mới của chúng. Lúc này bọn tướng lĩnh và quan chức cao cấp ngụy quyền tranh nhau trốn ra nước ngoài. Sài Gòn lâm vào tình trạng hỗn loạn. Tâm lý tuyệt vọng ngày càng lan tràn trong toàn bộ lực lượng ngụy quân, ngụy quyền.

Đêm 28 rạng ngày 29-4-1975, các cánh quân hùng mạnh của ta từ nhiều hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Với ưu thế áp đảo, quân ta ồ ạt tiến công, vừa bao vây tiêu diệt địch ở vòng ngoài, vừa thần tốc, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở bên trong.

Cánh quân lớn hướng đông phá vỡ tuyến phòng thủ của các đơn vị lính thủy đánh bộ, lính dù và thiết giáp ngụy ở Long Bình. Một binh đoàn hoàn thành việc đánh chiếm Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, phát triển về phía Cát Lái, cắt sông Lòng Tàu; sáng ngày 29-4-1975, đặt pháo lớn ở Nhơn Trạch bắn dồn dập vào sân bay Tân Sơn Nhất. Một binh đoàn khác làm chủ lực hoàn toàn căn cứ Nước Trong, ngã ba Long Bình rồi nhanh chóng tiến về phía cầu xã lộ trên sông Đồng Nai. Đêm 29 rạng 30-4, các đơn vị thọc sâu của binh đoàn này gồm bộ binh và xe tăng được các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ chiếm giữ cầu xa lộ từ sáng ngày 30-4 đánh thẳng vào Sài Gòn nhanh chóng chiếm “phủ tổng thống” ngụy.


Đoàn xe tăng lao qua cổng chính, tiến vào sân Dinh Độc Lập sáng 30/4. 
Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe 843, lấy lá cờ trên xe của mình 
treo lên cột cờ trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11h30


Cũng vào sáng 30-4, ở phía Nam, binh đoàn đã chiếm Bà Rịa tiến xuống giải phóng Vũng Tàu.

Cánh quân lớn hướng đông bắc tiêu diệt và làm tan rã các lực lượng còn lại của sư đoàn bộ binh số 18 và lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 3 đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 3 và sân bay Biên Hòa, giải phóng thị xã Biên Hòa đánh thẳng vào Sài Gòn.

Tập đoàn phòng ngự Biên Hòa-Long Bình của địch đã bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn:

Cánh quân lớn hướng bắc bao vây tiêu diệt căn cứ quan trọng của địch ở Phú Lợi và buộc các lực lượng còn lại của sư đoàn bộ binh ngụy số 5 ở Thủ Dầu Một, Lai Khê, Bến Cát phải đầu hàng. Trong khi đó một binh đoàn thọc sâu diệt địch ở Lái Thiêu và bắc cầu Bình Lợi thừa thắng đánh thẳng vào Sài Gòn.

Cánh quân lớn hướng tây bắc đánh chiếm căn cứ quan trọng của địch ở Đồng Dù giải phóng thị trấn Trảng Bàng, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn sư đoàn bộ binh ngụy số 25. Trong khi đó các đơn vị bộ đội đặc biệt tinh nhuệ đã nhanh chóng chiếm các cầu quan trọng và một đơn vị khác chiếm Hóc Môn, tạo điều kiện cho binh đoàn làm nhiệm vụ thọc sâu tiến nhanh xuống Bà Quẹo, diệt địch ở ngã tư Bảy Hiền đánh thẳng vào Sài Gòn.

Sáng 30-4, các cánh quân lớn hướng bắc và tây bắc đã nhanh chóng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy và căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.

Cánh quân lớn hướng tây nam chia làm hai mũi đánh vào Sài Gòn. Một mũi đánh từ phía tây đánh chiếm Hậu Nghĩa mở đường cho một binh đoàn thọc sâu chiếm bàn đạp Vĩnh Lộc đánh thẳng vào biệt khu thủ đô. Trước đó một đơn vị bộ đội đặc biệt tinh nhuệ đã thọc sâu chiếm khu trung tâm thông tin Phú Lâm. Một mũi từ phía Nam đánh lên chiếm bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia ngụy, khu Nhà Bè… Trong khi đó các bộ phận khác của cánh quân này đánh chiếm Tân An, Bến Lức, Thủ Thừa tiêu diệt phần lớn sư đoàn ngụy số 22, tiếp tục chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long.

Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực, trước và trong khi các cánh quân lớn đồng loạt đánh vào Sài Gòn, các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, biệt động, tự vệ của ta hoạt động ở vùng ven và ở ngay nội đô đã nhanh chóng và táo bạo tập kích và chiếm lĩnh một số mục tiêu quan trọng ở trong và chung quanh thành phố. Quần chúng trong và ngoài thành phố Sài Gòn-Gia Định nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều ấp, khóm, đón quân giải phóng tiến vào thành phố dẫn đường, tiếp tế cho bộ đội, truy lùng ác ôn, kêu gọi binh lính địch hạ vũ khí đầu hàng.


Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ra trước Đài Phát thanh tuyên bố 
đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh Việt Nam


Trước sức mạnh hoàn toàn áp đảo của ta, toàn bộ quân địch trong thành phố Sài Gòn-Gia Định đã mất hẳn tinh thần chiến đấu. Sau khi quân ta chiếm lĩnh “phủ tổng thống” ngụy, ngụy quyền trung ương ở Sài Gòn đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đúng 11h30 phút ngày 30-4-1975 quân ta  cắm lá cờ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên “phủ tổng thống” ngụy. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng.

Phát huy thắng lợi của cuộc tiến công giải phóng thành phố Sài Gòn, từ ngày 30-4-1975, đồng bào và chiến sỹ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ. Toàn bộ lực lượng quân sự của quân đoàn 4 ngụy gồm các sư đoàn bộ binh số 7, số 9 và số 21 cùng tất cả các đơn vị thiết giáp, pháo binh, quân địa phương đều đã đầu hàng. Ở một số địa phương bọn địch ngoan cố chống cự đã lập tức bị quân ta tiêu diệt. Ngày 01-5-1975, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng. Đồng bào các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Long An, Hậu Nghĩa, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau đã giành quyền làm chủ hoàn toàn.

Trong những ngày đầu tháng 5, các đảo Côn Sơn và Phú Quốc đã được giải phóng. Trước đó, trong tháng 4 -1975, quân ta đã giải phóng các đảo dọc bờ biển Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ gồm: Cù lao Ré, Hòn Tre, Cù lao Chàm, Cù lao Xanh, Cù lao Thu … và những đảo nằm trong quần đảo Trường Sa do quân ngụy chiếm giữ: đảo Song Tử Tây, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết, đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa và đảo An Bang.

Trong cuộc tiến công và nổi dậy lịch sử này, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 40 vạn quân địch thuộc hai quân đoàn 3 và 4 ngụy,  gồm mười sư đoàn bộ binh (trong đó có ba sư đoàn mới khôi phục), 12 trung đoàn thiết giáp, bốn sư đoàn không quân, 90 đơn vị hải quân, toàn bộ quân bảo an, cảnh sát dã chiến và dân vệ, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự, đập tan toàn bộ hệ thống kìm kẹp của địch ở trung ương đến cơ sở, giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định và tất cả các tỉnh, thành còn lại ở miền Nam. Ta thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh, chiếm lĩnh tất cả các sân bay cảng biển, kho tàng, thu hồi toàn bộ tài sản của nhân dân nằm trong tay chính quyền tay sai.

Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn.

Ý nghĩa thắng lợi

Thắng lợi hoàn toàn và triệt để của trận quyết chiến lịch sử vĩ đại này là chương kết thúc tuyệt đẹp hơn 20 năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước hết sức oanh liệt của nhân dân ta.

Đây là một thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Ta đã đập tan hoàn toàn bộ máy quân sự khổng lồ và hiện đại của chính quyền tay sai được xếp vào loại mạnh nhất ở Đông –Nam Á, loại khỏi vòng chiến đấu 1 triệu 10 vạn tên địch. Tiêu diệt và làm tan rã bốn quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn và nhiều lữ đoàn, trung đoàn bộ binh lính dù, lính thủy đánh bộ, quân biệt động, sáu sư đoàn không quân, 22 trung đoàn thiết giáp 22 trung đoàn hải quân 66 tiểu đoàn pháo binh, toàn bộ lực lượng cảnh sát dã chiến, bảo an, dân vệ cùng mọi tổ chức quân sự khác của chúng. Ta đã phá hủy và tịch thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở thiết bị, căn cứ quân sự, hệ thống kho tàng, sân bay, cảng biển… gồm hàng nghìn máy bay, hàng nghìn xe tăng và xe bọc thép, hàng nghìn tàu chiến, hàng nghìn khẩu pháo, nhiều kho dự trữ chiến lược lớn, nhiều sân bay và cảng biển lớn và hiện đại.

Ta đã quét sạch bộ máy ngụy quyền, bộ máy kìm kẹp to lớn và tàn bạo mà đế quốc Mỹ đã ra sức xây dựng trong 20 năm, làm tan rã hoàn toàn cơ quan ngụy quyền từ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đến thôn xã, quét sạch hàng trăm chi khu quân sự, hàng nghìn phân chi khu, gần tám nghìn đồn bốt; làm tan rã hàng chục vạn nhân viên Nguỵ quyền, đập tan mọi đảng phái và tổ chức chính trị phản động, tịch thu toàn bộ tài sản của ngụy quyền.

Ta đã giải phóng hoàn toàn 44 tỉnh ở miền Nam, tất cả các thành phố, tất cả các hải đảo do quân ngụy đóng giữ, giành lại toàn bộ giang sơn đất nước bao gồm cả vùng đất, vùng trời và vùng biển ở miền Nam.

Nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do hoàn toàn cho Tổ quốc, giành lại trọn vẹn chủ quyền dân tộc, quyền làm chủ hoàn toàn đối với đất nước thân yêu của mình. Lần đầu tiên sau 117 năm, trên đất nước ta hoàn toàn không còn bóng một tên xâm lược. Họa đất nước bị chia cắt được thanh toán; Nam Bắc đã nối liền thành một dải. Nguyện vọng thiết tha hơn một trăm năm nay của dân tộc ta là được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất của lịch sử dân tộc ta: xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào phong trào cách mạng thế giới./.

 

Video Sự Kiện
  • Bài hát Nam Định mình ơi
  • Ý Yên khát vọng đồng chiêm chũng
1 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 32
  • Hôm nay: 108
  • Trong tuần: 3803
  • Tất cả: 163856